GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ TĨNH TRONG 30 NĂM TÁI LẬP TỈNH (1991-2020)

 

Hà Tĩnh là vùng quê giàu truyền văn hoá và cách mạng; nhất là truyền thống hiếu học, hầu như thời nào cũng có những người xuất chúng, học rộng tài cao, đỗ đạt khoa bảng làm rạng danh quê hương, đất nước.

Trong  30 năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền các cấp, sự đồng thuận của nhân dân và sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ, giáo viên, học sinh, Giáo dục và  Đào tạo Hà Tĩnh đã có bước phát triển mạnh mẽ, toàn diện và đạt được những kết quả quan trọng.  

I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 

1. Cấp uỷ Đảng, chính quyền đã kịp thời đề ra các chủ trương, chính sách sát đúng để phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo

Bám sát quan điểm, đường lối của Đảng về giáo dục và đào tạo (GDĐT), trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã đề ra các chủ trương, chính sách kịp thời, sát đúng, phù hợp tình hình hình thức tiễn của địa phương tạo ra sự phát triển mới cho ngành GDĐT; nổi bật như:

Ngay sau khi tái lập tỉnh, đã chỉ đạo thành lập Trường Năng khiếu Hà Tĩnh (nay là trường Trung học phổ thông Chuyên Hà Tĩnh) để phát hiện, bồi dưỡng nhân tài tạo tiền đề cho việc nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn. 

Năm 2001, Tỉnh uỷ ban hành Nghị quyết 03-NQ/TU về đẩy mạnh thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục và phổ cập giáo dục trung học cơ sở giai đoạn 2001-2005 nhằm huy động toàn xã hội tham gia xây dựng và phát triển GDĐT. 

Năm 2011, Tỉnh uỷ ban hành Nghị quyết số 05 - NQ/TU về phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đến năm 2015 và những năm tiếp theo, Hội đồng Nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 20/2011/NQ-HĐND phê duyệt Đề án “Phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2015 và những năm tiếp theo”, tiến hành qui hoạch lại hệ thống trường mầm non và phổ thông toàn tỉnh vừa đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân vừa có qui mô phù hợp để nâng cao chất lượng giáo dục.

Năm 2018, Hội đồng Nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 96/2018/NQ-HĐND về Phát triển giáo dục mầm non và phổ thông tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2025 và những năm tiếp theo, chủ trương tiếp tục đổi mới mạnh mẽ giáo dục và đào tạo, tiếp tục sắp xếp lại mạng lưới trường lớp học, ban hành nhiều chính sách mới cho GDĐT. 

2. Hệ thống trường lớp từng bước được qui hoạch hợp lý đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân

Thực hiện chủ trương qui hoạch lại hệ thống trường lớp, đến nay hệ thống trường mầm non và phổ thông toàn tỉnh đã được sắp xếp khá hợp lý vừa đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân vừa có qui mô phù hợp để nâng cao chất lượng giáo dục, khắc phục được tình trạng trường học có quá nhiều điểm trường.

Nếu như năm học 1992-1993 toàn tỉnh có 1.178 trường học (701 trường mầm non, 236 trường tiểu học, 217 trường tiểu học, 24 trường THPT) thì đến năm học 2020 - 2021 còn 667 trường (254 trường mầm non, 221 trường tiểu học, 147 trường THCS, 45 trường THPT).

Hiện nay các địa phương cấp huyện đang tiếp tục triển khai đề án sắp xếp trường lớp theo tinh thần Nghị quyết 96/2018/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh với mục tiêu đến năm 2025 giảm thêm khoảng 20% số trường học.

3.  Phổ cập giáo dục, xoá mù chữ đạt được những kết quả vững chắc, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường tăng cao. 

Công tác huy động trẻ đến trường, thực hiện phổ cập giáo dục, xoá mù chữ đạt kết quả cao và vững chắc. Năm 1992, Hà Tĩnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học, chống mù chữ (tỉnh thứ 7 đạt chuẩn); năm 2002, đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở (tỉnh thứ 12 đạt chuẩn); năm 2013, đạt chuẩn phổ cập mầm non cho trẻ em 5 tuổi (tỉnh thứ 7 đạt chuẩn). Đến nay, tỉnh Hà Tĩnh đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 2, xóa mù chữ mức độ 2.

4. Đội ngũ nhà giáo được tăng cường về số lượng, cơ cấu; trình độ đào tạo ngày càng được nâng lên đáp ứng yêu cầu giảng dạy và giáo dục học sinh. 

Do nhu cầu học tập của học sinh, số lượng cơ cấu đội ngũ cán bộ quản, giáo viên các cấp học có sự biến động qua từng giai đoạn. So với năm 2011 số lượng giáo viên mầm non tăng 1.632 người, THPT tăng 775 người, giáo viên tiểu học giảm 877 người, giáo viên THCS giảm 1.491 người. 

Trình độ đào tạo của giáo viên mầm non và phổ thông không ngừng được nâng cao. Năm 1991 có 71.1% giáo viên mầm non, 97.4 % giáo viên tiểu học; 98.8% giáo viên THPT, 87.5%  giáo viên THCS đạt chuẩn thì đến năm 2019 đã có 100% giáo viên các cấp học đều đạt chuẩn đào tạo, tỷ lệ trên chuẩn đào tạo ngày càng cao: mầm non 90.5%, tiểu học 96%, THCS 83%, THPT 17.5%. 

Phần lớn các thế hệ cán bộ quản lý, giáo viên đều có phẩm chất, đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm cao, gắn bó với nghề, nỗ lực vượt qua khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng luôn được chú trọng và được tiến hành thường xuyên, liên tục; công tác qui hoạch, bổ nhiệm cán bộ quản lý có nhiều đổi mới tích cực như việc bổ nhiệm cán bộ quản lý các trường THPT thông qua thi tuyển từ năm học 2013-2014.

5. Cơ sở vật chất trường học được quan tâm đầu tư xây dựng, cơ bản đáp ứng yêu cầu dạy học, phần lớn các trường học đều xanh-sạch-đẹp; công tác xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia đạt những kết quả đáng ghi nhận

Cơ sở vật chất trường học được quan tâm huy động, đầu tư từ nhiều nguồn khác nhau theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa cơ bản đáp ứng yêu cầu dạy học, giáo dục. Đến nay hầu hết các trường học đều có đủ một phòng học trên một lớp, khắc phục được tình trạng học 2 ca (năm học 1992-1993 chỉ đạt 0,6 phòng học/lớp); tỷ lệ phòng học kiên cố đạt trên 85% (năm học 1992-1993 hầu hết các phòng học đều là phòng học tạm, cấp 4, xuống cấp). Hệ thống phòng bộ môn, phòng chức năng, trang thiết bị dạy học được trang bị khá đồng bộ (Giai đoạn 2001-2006 đầu tư đại trà thiết bị dạy học thực hiện đổi mới chương trình sách giáo khoa năm 2000: mỗi lớp tiểu học có 01 bộ thiết bị dạy học, mỗi trường THCS hoặc THPT có từ 2 đến 6 bộ thiết bị dạy học tối thiểu. Giai đoạn 2012-2020 đầu tư mạnh về đồ chơi trong trường mầm non và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, dạy học). 

Hà Tĩnh là một trong những tỉnh đi đầu trong việc hưởng ứng và triển khai chủ trương xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia từ năm1997. Việc xây dựng trường chuẩn quốc gia đã thực sự trở thành phong trào sâu rộng với sự vào cuộc quyết liệt của cấp uỷ, chính quyền các cấp, sự ủng hộ của phụ huynh học sinh và toàn xã hội; trở thành điểm sáng toàn quốc được các nơi về học tập; kết quả đã tạo nên diện mạo mới cho các trường học về cơ sở vật chất, cảnh quan sư phạm, chất lượng giáo dục.  

Tính đến cuối năm 2020, toàn tỉnh có 534/667 trường đạt chuẩn quốc gia, tỉ lệ 80,05%. Trong đó Mầm non có 181/254 trường đạt chuẩn, tỉ lệ 71,2%; Tiểu học có 193/221 trường , tỉ lệ 87,7%; THCS có 127/147 trường , tỉ lệ 86,39% và THPT có 33/45 trường , tỉ lệ 73,9%.

6. Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên, chất lượng giáo dục mũi nhọn đạt kết quả cao thuộc tốp dẫn đầu cả nước

6.1. Giáo dục Mầm non

Tỷ lệ trẻ mầm non đến trường tăng mạnh; chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục toàn diện đối với trẻ có sự chuyển biến rất tích cực. Số trường tổ chức bán trú đạt 100%, số trẻ ăn bán trú đạt 95.3%, công tác bán trú trở thành một nhiệm vụ trọng tâm để nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm còn dưới 5% (năm 2003 là 18,8%), tuyệt đại đa số trẻ mầm non được đảm bảo an toàn về thể chất và tinh thần, được phụ huynh tin tưởng, xã hội ghi nhận, đánh giá cao.

Thực hiện nghiêm túc và có nhiều đổi mới trong thực hiện Chương trình giáo dục mầm non của Bộ GDĐT trong từng giai đoạn khác nhau; chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chuyên đề về lễ giáo, âm nhạc, vệ sinh, dinh dưỡng và an toàn thực phẩm, phát triển tình cảm kỹ năng xã hội, phát triển vận động,….Những năm gần đây tập trung  xây dựng “trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm”, các hoạt động giáo dục tại các trường mầm non  đã có những chuyển biến mới trong giáo dục trẻ, cơ bản đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của phụ huynh, của xã hội. 

6.2. Giáo dục phổ thông

a) Giáo dục Tiểu học:

Hà Tĩnh là một trong những tỉnh đi đầu về phát triển giáo dục tiểu học với tinh thần xây dựng cấp tiểu học thực sự là nền móng, nề nếp, chất lượng. Vì vậy, cùng với việc thực hiện sớm phổ cập giáo dục tiểu học, công tác nâng cao chất lượng được chú trọng. Từ những năm 1996, đã thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo tinh thần “lấy học sinh làm trung tâm”, áp dụng  công nghệ giáo dục tại một số huyện. Từ năm 2000, thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới, giáo dục tiểu học Hà Tĩnh dẫn đầu cả nước về tổ chức dạy học 2 buổi/ngày, triển khai dạy học đại trà môn Tiếng Việt 1 theo Tài liệu công nghệ giáo dục, phương pháp “Bàn tay nặn bột”, dạy học Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch, áp dụng các mô hình giáo dục mới, đổi mới đánh giá học sinh, đưa dân ca ví, giặm vào các trường tiểu học, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý.

Hàng năm, chất lượng giáo dục tiểu học luôn được duy trì và ổn định, tỉ lệ học sinh lên lớp đạt trên 98%.

b) Giáo dục Trung học: 

Chất lượng giáo dục trung học được duy trì và có sự chuyển biến tích cực, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp THCS, THPT hàng năm đạt trên 98% , tỷ lệ học sinh trúng tuyển vào đại học cao đẳng đạt trên 60%, nhiều em đạt điểm tuyệt đối các môn thi, thủ khoa các trường đại học.

Công tác phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi luôn đạt kết quả cao, những năm gần đây thuộc trong tốp dẫn đầu cả nước về thành tích học sinh giỏi quốc gia. Từ 1991 đến nay đã có 1.288 em đạt học sinh giỏi quốc gia các môn văn hóa (26 giải Nhất, 232 giải Nhì, 531 giải Ba  và 501 giải Khuyến khích); có 06 học sinh đạt giải tại các kỳ thi học sinh giỏi quốc tế và khu vực (2 huy chương vàng, 01 huy chương bạc, 01 huy chương đồng Toán quốc tế; 01 huy chương vàng Toán, 01 huy chương bạc Tin học châu Á); 23 giải tại Cuộc thi khoa học kỹ thuật cho học sinh THPT cấp quốc gia (01giải nhất, 02 giải nhì, 13  giải ba, 07 giải tư); trên 200 học sinh đạt các loại huy chương về thể thao, điền kinh cấp quốc gia (tính từ năm 2010 đến nay, có 124 huy chương điền kinh cấp quốc gia, trong đó có 30 huy chương Vàng, 34 huy chương Bạc, 60 huy chương Đồng).

Ngoài ra học sinh Hà Tĩnh còn đạt thành tích cao trong các cuộc thi cấp quốc gia khác như: Tuổi trẻ học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; An toàn giao thông cho nụ cười ngày mai; Cuộc thi viết về Tấm gương nhà giáo; Hội thao Giáo dục quốc phòng và an ninh học sinh trung học phổ thông; Cuộc thi Tìm kiếm Tài năng toán học trẻ, cuộc  thi Olympic Toán học sinh, sinh viên  toàn quốc, vận dụng kiến thức liên môn giải quyết tình huống thực tiễn, dạy học theo Chủ đề tích hợp, Nước và Cuộc sống,…

Các hoạt động đổi mới theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW của Trung ương Đảng được triển khai tích cực, sáng tạo như: phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, đổi mới các cuộc thi, tổ chức các hoạt động trải nghiệm, nghiên cứu khoa học, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

7. Giáo dục thường xuyên, công tác xây dựng xã hội học tập có những chuyển biến tích cực 

Giai đoạn 1991-2005 (trước khi Luật Giáo dục 2005 ban hành) toàn tỉnh có 11 trung tâm GDTX với 10.744 học viên. Tính đến năm 2020, hệ thống GDTX đã có sự thay đổi về số lượng, chất lượng, đáp ứng nhu cầu học tập của các tầng lớp nhân dân, tổng số trung tâm GDTX hiện tại là 11 trung tâm, trong đó có 01 Trung tâm GDTX cấp tỉnh, 10 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp- Giáo dục thường xuyên cấp huyện, có 06 trường Cao đẳng và Trung cấp nghề dạy hệ GDTX cấp THPT kết hợp đào tạo nghề, tổng số học viên tham gia chương trình GDTX cấp THPT trên là 11.000 học viên.

Thực hiện chủ trương xây dựng xã hội học tập, hệ thống trung tâm học tập cộng đồng được thành lập đến tận xã, phường, thị trấn. Giai đoạn từ năm 1991-2005 toàn tỉnh thành lập được 163 trung tâm học tập cộng đồng xã, phường, thu hút hơn 60.800 lượt người tham gia học tập các chuyên đề về chuyển giao công nghệ sản xuất, học nghề mới, … đến nay 100% xã, phường, thị trấn đều đã có trung tâm học tập cộng đồng, giai đoạn 2006 - 2019 đã có trên 948.000 lượt người  tham gia học tập các chương trình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, khuyến công, kiến thức về pháp luật, các vấn đề về xã hội, sức khỏe, đời sống...

8. Giáo dục chuyên nghiệp; công tác phân luồng, hướng nghiệp có bước phát triển, đạt được những kết quả tích cực 

Quy mô mạng lưới các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp tính đến năm 2020 phát triển mạnh so với giai đoạn 1991-2005. Hiện nay toàn tỉnh có 01 trường Đại học đa ngành với quy mô đào tạo gần 4.000 học sinh, sinh viên; đã đào tạo hơn 12.000 nhân lực trình độ cao phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh và khu vực, trong đó hơn 3.200 nhân lực cho nước bạn Lào; Có 04 trường cao đẳng: Cao đẳng Nguyễn Du (nâng cấp từ trường TC Văn hóa Nghệ thuật), Cao đẳng Y tế (nâng cấp từ trường trung cấp Y tế), Cao đẳng Kỹ thuật Việt Đức và Cao đẳng Công nghệ. Số lượng các trường Trung học chuyên nghiệp (sau đổi tên thành trung cấp chuyên nghiệp), thành lập mới các trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh, Trung cấp Kỹ nghệ, Trung cấp nghề Lý Tự Trọng. Số lượng học sinh, học viên và sinh viên các trường cao đẳng, TCCN toàn tỉnh tính đến năm 2020 là 25.240 người tăng hơn 5 lần so với giai đoạn 1991-2005.

Công tác phân luồng học sinh sau THCS, THPT được sự quan tâm chỉ đạo và triển khai đến các trường học. Những năm gần đây, học sinh và phụ huynh đã có những chuyển biến tích cực về nhận thức, chọn học nghề phù hợp với năng lực, sở trường, điều kiện bản thân, gia đình và nhu cầu của xã hội. Số lượng học sinh lựa chọn học nghề có xu hướng tăng nhanh, tỷ lệ thí sinh dự thi THPT quốc gia để đăng ký xét tuyển vào đại học, cao đẳng  giảm mạnh (năm 2019 là 54,4%); số lượng học sinh tốt nghiệp THPT vào học trung cấp nghề chiếm tỉ lệ 33,7%. Toàn tỉnh có 28 trường THPT với 8.529/43.607 học sinh theo học mô hình thí điểm THPT- Trung cấp nghề (tỷ lệ 19,55%); có 5496/5579 học sinh đang học hệ bổ túc, kết hợp học nghề.  

8. Công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh và phát huy tác dụng

Những năm gần đây nhiều tổ chức và cá nhân đã tham gia phát triển giáo dục, thành lập các trường mầm non phổ thông tư thục. Năm 2020, toàn tỉnh đã có đã có 17 trường mầm non tư thục (huy động được 15% trẻ nhà trẻ, 6% trẻ mẫu giáo so với tổng số trẻ huy động) và 7 trường phổ thông ngoài công lập. 

Ngoài ngân sách nhà nước, hàng năm các cơ sở giáo dục còn huy động nguồn đóng góp của xã hội hàng trăm tỷ đồng để tăng cường cơ sở vật chất trường học. Các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị, xã hội và Nhân dân ngày càng quan tâm hơn đến giáo dục, phối hợp chặt chẽ với ngành giáo dục trong việc giáo dục học sinh, xây dựng môi trường giáo dục trong và ngoài nhà trường.  

Phong trào khuyến học, khuyết tài phát triển khá sâu rộng đến tận từng gia đình, dòng họ, địa phương, đơn vị; nhiều quĩ khuyến học được thành lập như: “ Quỹ khuyến học đất Hồng Lam”,  “Quỹ khuyến học khuyến tài Nguyễn Du”, ...kịp thời khen thưởng học sinh có thành tích cao trong học tập. Riêng quỹ khuyến học cấp tỉnh năm 2000 đạt 450 triệu, năm 2019 là 20 tỷ  235 triệu đồng (tăng gấp 45 lần so với năm 2000)

9. Công tác quản lý nhà nước về giáo dục có nhiều đổi mới

Thực hiện phân cấp quản lý, phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục; giao quyền tự chủ cho uỷ ban nhân dân cấp huyện, Sở GDĐT trong công tác quản lý đội ngũ, quản lý kinh phí sự nghiệp giáo dục theo đúng quy định. Các cơ sở giáo dục được giao quyền tự chủ trong việc xây dựng kế hoạch dạy học, sử dụng ngân sách…

Công tác cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và trợ dạy học được đẩy mạnh.

Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong các lĩnh vực về giáo dục được tăng cường.

10. Các phong trào thi đua yêu nước trong ngành được triển khai sâu rộng, xuất hiện nhiều tấm gương điển hình tiên tiến.

Các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động trong ngành được triển khai sâu rộng và đạt kết quả tích cực như: Phong trào thi đua “Dạy tốt - Học tốt”,  Phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực",  Phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với cuộc vận động "Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo". 

Thông qua các phong trào, các cuộc vận động đã xuất hiện nhiều tấm gương tập thể và các nhân tiêu biểu, điển hình tiến tiến trên phạm vi toàn quốc.  Trong 20 năm qua có 2 tập thể được Nhà nước phong tặng danh hiệu ”Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới” là: Trường tiểu học Cẩm Bình, Trường THCS Kỳ Tân, 5 nhà giáo được được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, 84  nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú. Sở Giáo dục và Đào tạo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba (năm 2001), Huân chương Độc lập hạng Nhì (năm 2005), Huân chương Độc lập hạng Nhất (năm 2011).

II. TỒN TẠI HẠN CHẾ

1. Công tác qui hoạch hệ thống trường lớp phải thực hiện nhiều lần, thiếu tính ổn định, một số nơi chưa phù hợp, chưa tạo được sự đồng thuận trong nhân dân. Hệ thống các trường ngoài công lập phát triển còn chậm.  

2. Đội ngũ nhà giáo còn bất cập về số lượng, cơ cấu, bố trí không đồng đều giữa các địa phương, trường học, chưa đáp ứng nhu cầu đi học của trẻ mầm non. Một bộ phận nhà giáo còn hạn chế về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.

3. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học trường học nhiều nơi xuống cấp, thiếu phòng chức chức năng, công trình vệ sinh.

4. Chất lượng giáo dục toàn diện ở một số trường học còn hạn chế; công tác giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh hiệu quả chưa cao. Việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá chuyển biến chưa rõ nét.

5. Công tác xã hội hoá giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu, huy động đóng góp của xã hội cho giáo dục còn hạn chế. Việc thực Kế hoạch” Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012-2020” chưa đạt được mục tiêu đề ra; hệ thống các trung tập học tập công đồng hoạt động còn khó khăn, hiệu quả chưa cao.

6. Chất lượng đầu ra của một số cơ sở đào tạo nghề còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu thị trường lao động trong nước và quốc tế. Việc thực hiện tự chủ của các trường đại học, cao đẳng, trung cấp trên địa bàn còn khó khăn, chưa gắn với đổi mới quản trị nhà trường.

7. Công tác phân luồng, hướng nghiệp chưa đạt được kết quả như mục tiêu đề ra; vấn đề bố trí, tìm kiếm việc làm cho học sinh sau đào tạo nghề còn khó khăn.

8. Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở một số lĩnh vực đạt hiệu quả chưa cao, một số chính sách ban hành không thực hiện được hoặc không đáp ứng yêu cầu; thực hiện phân cấp quản lý giáo dục còn có những bất cập, chưa tạo được sự thống nhất trong quản lý nhà nước về chuyên môn với quản lý nhân sự, tài chính; còn xảy ra tình trạng lạm thu, dạy thêm học thêm trái qui định.

III. NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Nguyên nhân thành công

- Nhân dân Hà Tĩnh vốn có truyền thống hiếu học, sẵn sàng đầu tư cho con em học hành.

- Cấp uỷ, chính quyền các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, kịp thời đề ra các chủ trương, chính sách đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục.

- Các cơ quan quản lý giáo dục, các trường học đã bám sát nhiệm vụ chính trị và tình hình thực tế của địa phương để có sự tham mưu tích cực, phù hợp, có hiệu qủa cho cấp uỷ chính quyền các cấp để phát triển GDĐT.

- Có sự vào cuộc phối hợp tích cực của các ngành, các tổ chức chính trị, xã hội, các đoàn thể quần chúng, các tầng lớp nhân dân trong các hoạt động giáo dục, nhất là vận dụng tốt quan điểm xã hội hoá giáo dục của Đảng và Nhà nước.

- Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, nhà giáo các thế hệ phần lớn đều có phẩm chất, đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm cao, gắn bó với nghề, nỗ lực vượt qua khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Học sinh Hà Tĩnh đa số đều chịu khó, thông minh, có ý thức phấn đấu vươn lên trong học tập để lập thân, lập nghiệp.

2. Nguyên nhân hạn chế

- Công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, một số chủ trương lớn của ngành cho cán bộ, đảng viên, giáo viên và mọi tầng lớp Nhân dân chưa thật sự sâu rộng; chưa thường xuyên, liên tục; hiệu quả chưa cao.

- Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh về đổi mới giáo dục, đào tạo đã được ban hành, nhưng sự quan tâm, vào cuộc của một số cấp ủy, chính quyền, có lúc, có nơi còn thiếu đồng bộ, chưa quyết liệt; các nguồn lực đầu tư cho giáo dục chưa tương xứng với yêu cầu thực tế.

- Mặt trái của cơ chế thị trường, các trang mạng xã hội và một số biểu hiện của tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật đang diễn ra trong đời sống thường ngày đã tác động tiêu cực đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của một số cán bộ, giáo viên trong ngành.

- Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống cho cán bộ, giáo viên chưa được quan tâm đúng mức, thiếu các giải pháp đồng bộ để sắp xếp đội ngũ nhà giáo.

- Công tác tham mưu của ngành GDĐT một số nội dung chưa kịp thời, hiệu quả chưa cao.

3. Bài học kinh nghiệm

Một là, Phải thực sự coi GDĐT là Quốc sách hàng đầu theo đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng, từ đó có sự quan tâm và ưu tiên đầu tư toàn diện cho GDĐT về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đảm bảo các điều kiện nâng cao chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi để GDĐT phát triển.

Hai là, Sự nghiệp GDĐT là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Do đó, cần phải phát huy tốt sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa GDĐT để huy động tốt mọi nguồn lực xã hội cho GDĐT.

Ba là, Quá trình phát triển của sự nghiệp GDĐT gắn liền với sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp. Để tạo được sự đồng tình và quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền  trước hết Ngành GDĐT phải chủ động  tham mưu kịp thời, tích cực và đúng hướng.

Bốn là, Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục  là nhân tố quyến định chất lượng giáo dục. Vì vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục, trước hết  phải thực sự quan tâm xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục thực sự tâm huyết, trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Năm là, Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, xây dựng khối đoàn kết thống nhất, phát huy dân chủ trong mỗi cơ sở giáo dục là yếu tố hết sức quan trọng, là điều kiện cơ bản để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của ngành.

IV. NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẾN NĂM 2025 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO

1. Tập trung quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và nghị quyết Đại hội Đảng các cấp về lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài.

2. Tiếp tục đổi mới GDĐT theo tinh thần nghị quyết 29-NQ/TW của Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT. Tập trung đổi mới phương thức, phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện đáp ứng những yêu cầu mới của phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Chú trọng hơn giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thực trách nhiệm xã hội cho thế hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng và hiệu quả Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

3. Hoàn thành việc sắp xếp mạng lưới trường học, đảm bảo sự ổn định để nâng cao chất lượng giáo dục. Đẩy mạnh phát triển các cơ sở giáo dục ngoài công lập nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân.

4. Củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục. Thực hiện tốt hơn phân luồng học sinh sau trung học cơ sở. Đa dạng hóa các loại hình đào tạo. Thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời. Phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao.

5. Đảm bảo các điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục như: Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học theo hướng hiện đại; đầu tư hạ tầng và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong GDĐT. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục nhằm huy động các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển GDĐT.

6. Đổi mới đồng bộ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý và quản trị nghiệp vụ, chuyên môn trong GDĐT. Từng bước thực hiện có hiệu quả cơ chế tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình của các cơ sở GDĐT. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh. Kiên quyết khắc phục bệnh thành tích, ngăn ngừa và xử lý nghiêm các tiêu cực trong GDĐT.

   Nhà giáo Nguyễn Quốc Anh - Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo

 

 

Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 195
Hôm qua : 101
Tháng 09 : 3.665
Năm 2021 : 48.628